Tần Vũ rất rõ ràng, thân là 'Sáng tạo giả' của một vũ trụ, mọi thứ trong vũ trụ đều khống chế trong tay. Ngay cả vận mệnh của bất cứ người nào trong vũ trụ, cũng có thể tính ra. Bất quá đây là vũ trụ của Lâm Mông, Tần Vũ không thể tính ra vận mệnh của Chu Thanh đó, nhưng Lâm Mông lại có thể tính được. "Chu Thanh?
Còn cần phải thể hiện được đầy đủ các sắc thái, độ biểu cảm của văn bản gốc, cụm từ gốc. Dịch không chỉ cần TÍN, ĐẠT, mà còn cần NHÃ nữa, là vì thế. "Chính phủ xây dựng" không thể sánh được với "chính phủ kiến tạo" về độ hay, về sắc thái
Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. trước hơn 10 vạn người dự lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã đọc bản Di chúc của Người và Điếu văn của Trung ương, trong đó có năm lời thề son sắt của
Nguồn. Hồng Hoang: Van Cầu Ngươi Để Cho Ta Chứng Đạo Đi. 947 Chương. Chương 947: Sát Hồ Yêu. Đọc ». truyenyy.vip. Diệp Thanh xuyên việt Hồng Hoang Thế Giới, dựa vào Thập Nhị Phẩm Diệt Thế Hắc Liên vì căn bản, mở đầu chiếm đoạt Ma Thần La Hầu, Càn Khôn lão tổ, Âm
Truyền cảm hứng sáng tạo cho giới trẻ. Dựa trên những câu chuyện có thật, tác giả trẻ Nam Kha gợi ý một số bí quyết nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo cho giới trẻ ngày nay. Với sự hỗ trợ của công nghệ cùng việc thay đổi thói quen sống do đại dịch Covid-19, nhiều bạn
Đây là điều Chúa muốn chúng ta, những Kitô hữu "Con cái ánh sáng", con của Cha chúng ta là Thiên Chúa Tình Yêu và Sự Sáng. Chúa mong chúng ta hãy chiếu tỏa ánh sáng chân thật, công bằng, tình yêu, bác ái…để đẩy lui và xóa tan đi bóng tối trong cuộc sống.
MaArAEZ. Kế Hoạch của Thượng Đế dành cho Chúng Ta Tại sao chúng ta cần phải đến thế gian? Khi chúng ta còn là con cái linh hồn sống với cha mẹ thiên thượng của mình, Cha Thiên Thượng của chúng ta đã phán bảo cho chúng ta biết về kế hoạch của Ngài để giúp chúng ta trở nên giống như Ngài hơn. Chúng ta đã cất tiếng reo mừng khi chúng ta nghe được kế hoạch của Ngài xin xem Gióp 387. Chúng ta háo hức mong chờ những kinh nghiệm mới. Để những điều này được xảy ra, chúng ta cần rời khỏi nơi hiện diện của Đức Chúa Cha của chúng ta và tiếp nhận những thể xác hữu diệt. Chúng ta cần có một nơi khác để sống, là nơi mà chúng ta có thể chuẩn bị để trở nên giống như Ngài. Ngôi nhà mới của chúng ta được gọi là thế gian. Các anh chị em nghĩ tại sao chúng ta cất tiếng reo mừng khi chúng ta nghe được kế hoạch cứu rỗi? Chúa Giê Su Sáng Tạo ra Thế Gian Chúa Giê Su Ky Tô sáng tạo ra thế giới này và vạn vật trong đó. Ngài cũng sáng tạo ra nhiều thế giới khác. Ngài đã làm như vậy qua quyền năng của chức tư tế, dưới sự hướng dẫn của Cha Thiên Thượng của chúng ta. Thượng Đế Đức Chúa Cha đã phán “Ta đã sáng tạo ra vô số thế giới; … và ta sáng tạo ra chúng qua Vị Nam Tử, tức là con Độc Sinh của ta” Môi Se 133. Chúng ta có những chứng ngôn khác về lẽ thật này. Joseph Smith và Sidney Rigdon đã trông thấy Chúa Giê Su Ky Tô trong một khải tượng. Họ đã làm chứng rằng “bởi Ngài, qua Ngài và do Ngài mà các thế giới đã và đang được sáng tạo, và dân cư trên ấy là con trai và con gái của Thượng Đế sinh ra” GLGƯ 7624. Thực Hiện Sự Sáng Tạo Các mục đích của Sự Sáng Tạo là gì? Thế gian và vạn vật trên đó đã được sáng tạo ở thể linh trước khi được sáng tạo ở thể vật xin xem Môi Se 35. Khi hoạch định việc sáng tạo ra thế gian ở thể vật, Đấng Ky Tô đã phán cùng những người đang hiện diện với Ngài “Chúng ta sẽ đi xuống, vì dưới đó có khoảng không, … và chúng ta sẽ làm ra một thế gian cho những linh hồn này [các con linh hồn của Cha Thiên Thượng của chúng ta] trú ngụ” Áp Ra Ham 324. Dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Cha, Đấng Ky Tô đã tạo dựng và tổ chức thế gian. Ngài tách ánh sáng ra khỏi bóng tối để làm thành ngày và đêm. Ngài tạo mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Ngài tách nước ra khỏi đất khô cạn để làm thành biển, sông và hồ. Ngài làm cho thế gian trở thành xinh đẹp và phong phú. Ngài làm nên cỏ, cây, hoa và đủ loại cây cối. Những cây cối này chứa hạt giống mà từ đó cây cối mới có thể được nẩy nở. Rồi Ngài tạo ra các động vật—cá, gia súc, côn trùng và chim muông đủ loại. Những động vật này có khả năng sinh sôi nẩy nở theo giống của chúng. Giờ đây, thế gian đã sẵn sàng cho sự sáng tạo vĩ đại nhất trong tất cả mọi sự sáng tạo—loài người. Linh hồn của chúng ta được ban cho thể xác bằng thịt và máu để chúng ta có thể sống trên thế gian. “Và ta Thượng Đế, phán bảo Con Độc Sinh của ta, là người đã cùng ở với ta từ lúc khởi đầu Chúng ta hãy làm nên loài người, theo hình ảnh của chúng ta; và việc ấy đã có như vậy” Môi Se 226. Và như thế người nam đầu tiên, A Đam, và người nữ đầu tiên, Ê Va, được tạo nên và được ban cho thể xác giống như thể xác của cha mẹ thiên thượng của chúng ta. “Ngài dựng nên loài người giống như hình ảnh của Thượng Đế; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” Sáng Thế Ký 127. Khi Chúa hoàn thành sự sáng tạo của Ngài, Ngài lấy làm hài lòng và biết rằng việc làm của Ngài thì tốt đẹp, và Ngài nghỉ ngơi trong một thời gian. Những Sự Sáng Tạo của Thượng Đế Cho Thấy Tình Yêu Thương của Ngài Làm thế nào những sự sáng tạo của Thượng Đế cho thấy Ngài yêu thương chúng ta? Chúng ta hiện đang sống trong thế giới xinh đẹp này. Hãy nghĩ đến mặt trời mang lại sự ấm áp và ánh sáng cho chúng ta. Hãy nghĩ đến mưa làm cho cây cối nẩy nở và làm cho thế gian cảm thấy sạch sẽ và tươi mát. Hãy nghĩ về điều tốt đẹp biết bao khi nghe tiếng chim muông ca hót hoặc bạn bè cười vang. Hãy nghĩ đến cơ thể của chúng ta kỳ diệu biết bao—cách chúng ta có thể làm việc, vui chơi và nghỉ ngơi. Khi chúng ta suy nghĩ về tất cả mọi sự sáng tạo này, thì chúng ta mới bắt đầu hiểu rằng Chúa Giê Su Ky Tô và Cha Thiên Thượng của chúng ta là những Đấng thông sáng, đầy quyền năng và đầy tình yêu thương biết bao. Các Ngài đã cho thấy tình yêu thương lớn lao đối với chúng ta bằng cách đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của chúng ta. Đời sống của cây cối và các động vật cũng được tạo ra để mang đến niềm vui cho chúng ta. Chúa đã phán “Phải, tất cả những vật nảy sinh từ đất nảy sinh, vào đúng mùa của chúng, đều được tạo ra vì lợi ích và sử dụng của con người, vừa để làm vui mắt, vừa để làm cho lòng người hân hoan; phải, để làm thực phẩm và y phục, để nếm và để ngửi, để bồi bổ cơ thể và làm sống động tâm hồn” GLGƯ 5918–19. Mặc dù có rất nhiều tạo vật của Thượng Đế, nhưng Ngài cũng biết rõ và yêu thương tất cả những tạo vật đó. Ngài phán “Đối với ta mọi thứ đều đếm được, vì chúng là của ta và ta biết rõ chúng” Môi Se 135. Các anh chị em biết ơn một số điều nào về những sự sáng tạo của Thượng Đế? Các Câu Thánh Thư Bổ Túc Sáng Thế Ký 1; 21–7; Áp Ra Ham 322–23; 4–5; Môi Se 2–3 truyện ký về Sự Sáng Tạo Hê Bơ Rơ 11–3; Cô Lô Se 112–17; GLGƯ 381–3 Chúa Giê Su Đấng Sáng Tạo GLGƯ 5918–20; Môi Se 226–31; GLGƯ 10413–17; Ma Thi Ơ 625–26 Sự Sáng Tạo cho thấy tình yêu thương của Thượng Đế
Ở Trung Quốc, những tìm tòi về cội nguồn, sự tạo dựng và vận hành của giới tự nhiên đầu tiên xuất hiện vào giữa thế kỷ 4 và thế kỷ 2 TCN. Đó là thời kỳ mà các khái niệm quan trọng được xây dựng làm nền tảng cho triết học tự nhiên, vật lý học và vũ trụ học đáng kinh ngạc. eVăn Hoài Nam Tử, cùng với Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh, là những bộ sách quan trọng của Đạo giáo Trung Quốc, nhưng Hoài Nam Tử lại không được nhiều người biết đến. Một phần có lẽ bởi ngôn ngữ của Hoài Nam Tử được xem là khó hiểu - một hình thức ẩn dụ về quá trình hình thành của các thực thể từ khối hỗn mang nguyên thủy. Tuy vậy, nếu đứng từ điểm nhìn của khoa học hiện nay, Hoài Nam Tử có nhiều điểm tương đồng với các quan niệm về triết học tự nhiên của các triết gia Hy La cùng thời. - Thời kỳ này, được đánh dấu bởi một kho tàng văn minh vật chất và tinh thần rực rỡ chưa từng có trước đó, không phải là không có nét tương hợp với lịch sử Hy La ở chỗ, một mặt, vào thời Chiến Quốc - còn gọi là thời đại Trăm nhà -, các trào lưu tư tưởng lớn được hình thành, định hướng cho sự phát triển tinh thần của các nước có nền văn hóa Hán, mặt khác, đế chế Tần, Hán sau này đã củng cố những thành quả của thời đại trước, thực hiện sự thống nhất về chính trị và văn hóa đất nước bằng cách xây dựng một hệ tôn giáo chính thống trên cơ sở của đạo Khổng. Đối với chúng ta, điều đáng nói là những tìm tòi về vũ trụ xuất hiện khá muộn trong sự phản ánh của triết học, sau các tác phẩm nền tảng của tư tưởng Trung Quốc gần hai thế kỷ. Sách “Luận ngữ” nói rằng nguyên tắc của người quân tử là hạn chế đề cập nhiều các vấn đề có liên quan đến giới tự nhiên và quỷ thần. Ngày nay người ta cho rằng tư tưởng về vũ trụ của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến với những phát triển đầu tiên của nó trong số các nhà - mà những người sưu tập đời Hán gọi là các kỹ thuật gia để đối lập với các tư tưởng gia bốc sư, nhạc sư, nhà thiên văn, nhà địa lý, thầy thuốc, người chủ tế. Họ hợp thành một bộ phận quan trọng trong đời sống của giới vương giả. Những hoạt động và hiểu biết của họ đã khá quen thuộc qua các giai thoại và liệt truyện rải rác trong các biên niên sử viết về giới vương tôn, và thời Chiến Quốc. Trước hết, bản văn, mà chúng ta sẽ khảo cứu, thực chất là xuất xứ từ một tác phẩm được cóp nhặt bởi những người thân cận của các bậc vương hầu vào đầu thời Hán thế kỷ 2 TCN sách Hoài Nam Tử. Nó gồm 21 chương bàn đến các vấn đề như vũ trụ học, thiên văn học, tâm lý học, thuật cai trị, thuật trường sinh, địa lý học, lịch pháp và nghệ thuật quân sự. Mặc dù, theo cách nào đó, vẫn còn khá gần với lối tư duy của các nhà kỹ thuật nhưng tác phẩm mang đậm màu sắc Đạo gia và đầy tính tư biện. Bên cạnh các tác phẩm của Lão Tử và Trang Tử, nó trở thành bộ kinh quan trọng của Đạo giáo. Vấn đề sáng tạo vũ trụ được trình bày trong tác phẩm như một thể văn có cấu trúc chặt, một hình thức dụ ngôn về quá trình dắt díu nhau của các thực thể phát xuất từ khối hỗn mang nguyên thủy. Có khoảng năm chương được bắt đầu bởi sự quan hệ về nguồn gốc thế giới, cùng những biến thể không đáng kể của chủ đề được đề cập trong từng chương. Chúng tôi ghi nhận chủ đề chương ba “Thiên văn tuần” Tianwen xun. Điều đáng nói là thiên luận thiên văn mang một nghĩa khá rộng vì ở đấy, họ người Trung Quốc cổ xưa - ND cũng bàn đến vũ trụ, thuật làm đồng hồ, tính hài hòa, sự vận động của các hành tinh và các chu kỳ lịch pháp. Chương này cùng với Chu bề toán kinh thế kỷ 1 TCN và các thiên luận thiên văn, lịch pháp trong sách Sử ký thế kỷ 2 TCN, Hán thư thế kỷ 1 TCN hợp thành bộ bản văn xưa cũ nhất cho ta hiểu biết về thiên văn học, vũ trụ học và lịch pháp Trung Quốc. Đây là phần đầu của tác phẩm; khởi từ nguồn gốc, đưa đến sự xuất hiện của muôn vật “Vì trời đất còn chưa thành hình, nên tất cả đều thấp thoáng, tối mờ, sâu thẳm, không thể phân biệt được, ấy gọi là đại khởi. Đạo bắt đầu từ khoảng không mênh mông. Khoảng không này sinh ra không gian và thời gian; không gian và thời gian sinh ra khí. Khí có nhiều dạng. Khí nhẹ và trong thanh lọc thành trời; khí nặng và thô ngưng tụ thành đất. Quá trình tập trung của khí nhẹ và trong diễn ra dễ dàng; quá trình ngưng tụ của khí nặng và thô thì khó khăn. Do đó trời được hình thành trước đất. Thể tính dẫn xuất từ trời đất tạo thành Âm, Dương. Thể tính tập trung từ Âm Dương tạo nên bốn mùa. Thể tính phân tán của bốn mùa tạo nên vạn vật.”... Chúng tôi đã chia bản văn trên thành bảy đoạn, đánh dấu những thời kỳ khác nhau của tiến trình vũ trụ. Có ba thời kỳ Thời kỳ tiền vũ trụ, với nghĩa nó có trước sự hình thành của trời đất. Ngôn ngữ sử dụng để mô tả trạng thái nguyên thủy này gợi ra ý niệm về cái mập mờ, nhập nhằng và không hình trạng. Đó là thời kỳ hỗn mang nguyên thủy, hay như người Trung Quốc gọi là Hỗn Độn. Thế nào là Hỗn Độn? “Gọi là Hỗn Độn, tức là nói vạn vật quyện thành một thể không tách rời”. 1 Tiếp theo, Đạo và khoảng không xuất hiện như những dữ kiện ban đầu, không có mối liên hệ nhân quả với khối hỗn mang. Như vậy có ba khái niệm 1 Hỗn Độn, mang trong nó khả năng tính của thế giới; 2 Đạo, nguyên lý trật tự, điều khiển tiến trình tự nhiên, thâm nhập vào thời kỳ ấy với tư cách là cội nguồn đầu tiên; 3 Khoảng không, nơi mà từ đó các yếu tố khác của hiện thực được cấu lập. Thời kỳ tiếp theo, có thể gọi là khâu trung gian giữa hai khoảng thời gian trước và sau khi trời đất hình thành. Ở thời kỳ này, khoảng không vận động thành không gian và thời gian. Sự chuyển hóa của khoảng không thành vũ trụ, sinh ra khí. Khí, năng lực sống hay bản thể đầu tiên, mặc dù vẫn còn chưa có sự dị hóa, mang trong nó khả năng tính về sự triển nở trong tương lai. Cuối cùng là thời kỳ vũ trụ gồm hai giai đoạn. Một là trời đất được hình thành bởi quá trình phân hóa của nguyên khí và ngưng tụ của các yếu tố tinh, thô; quá trình này xảy ra cùng với quá trình phát triển của Âm Dương theo bình diện nội tại, nghĩa là theo bình diện của tính năng động ngầm ẩn trong giới tự nhiên và trong dòng chuyển hóa của sự vật, hiện tượng. Bằng cách nhấn mạnh tính có trước của trời trong mối quan hệ với đất, các tác giả đã đặt ra nguyên lý về cái siêu việt tính của vũ trụ tối cao. Ta cũng nên lưu ý cách dùng từ “Tạo” constituer thay từ “Sinh” engendrer, ở giai đoạn kể trên, muốn nói tới tính vận động liên tục của tiến trình. Hai là, các hiện tượng tự hiện bày do quá trình ngưng tĩnh của tính năng động của thế giới dưới hình thức chu kỳ bốn mùa. Đến lượt mình, chu kỳ bảo đảm sự hình thành của vạn vật. Khái niệm bốn mùa, tưởng như vô nghĩa nhưng chiếm một vị trí quan trọng trong vũ trụ học và vật lý học Trung Quốc. Chu kỳ mùa, và các chu kỳ thiên nhiên trong tổng thể của chúng, đóng vai trò là “cái đai truyền” giữa bình diện nội tại tính, tức bình diện Đạo, và cơ chế điều khiển sự chuyển hóa, một phần, của Âm Dương, phần khác, của vạn vật trong thế giới. Rất có thể chúng hợp thành giai đoạn cuối của sáng tạo vũ trụ, tức giai đoạn ngưng tĩnh của những trạng thái biến đổi. Sự ngưng tĩnh, đến lượt nó, làm điều kiện cho sự sống xuất hiện. Kết quả là thực thể chỉ có tính hiện thực ở phạm vi bó gọn của chu kỳ mà hình thái của nó được biểu hiện qua sự diễn biến của mùa. Do đó các phạm trù phân loại tính tương liên vũ trụ học vận động xoay quanh hệ biến thái mùa. Như vậy, ở Trung Quốc, thiên văn học có thể được xem như một ngành nhánh và phái sinh từ ngành mà ngày nay chúng ta gọi là Sinh thái biên niên Chronobiologie. * Các quan niệm vũ trụ của người Trung Quốc, lý luận về con đường từ hỗn mang đến vũ trụ chẳng hạn, đã thu hút sự chú ý của nhiều chuyên gia. Thời gian gần đây, có khoảng bốn bản dịch bản văn kể trên xuất hiện trong các sách Anh, Pháp2. Nhiều cách giải thích khác nhau về bản văn được đưa ra – một số trên cùng lĩnh vực tư tưởng, số khác trong điểm nhìn hơn là trong so sánh. Chẳng hạn, người ta nhận thấy ở đó tính dự báo, tính trực giác triết học của các mô hình và giả thuyết đã được phát triển bởi các nhà vật lý và vũ trụ học hiện đại. Nó không thuộc quyền quyết định của tôi dù cho bản văn vừa khảo xét trên thực tế có phù hợp với những so sánh như vậy. Trong mọi trường hợp, nó đều biểu hiện những/một số đặc tính singularité đáng chú ý. Đặc tính của các khái niệm như Đạo, Âm Dương, Khí, Không gian và Thời gian, Kinh chỉ tương hợp một cách tương đối gần với lối tư duy triết học của chúng ta tức triết học phương Tây - ND. Nó không ám chỉ đến một trí năng siêu việt điều hành thế giới, tức đấng sáng tạo. Đặc tính của thứ bậc tương ứng với các chu kỳ của giới tự nhiên với tư cách là những tác nhân bên ngoài của tính ổn định về cấu trúc thế giới và những nguyên tắc điều hòa tính sinh diệt của vạn vật. Đặc tính của bản thân tiến trình của nguồn gốc vũ trụ luận ý tưởng về sự tạo dựng không gian và thời gian như thời kỳ đầu đối với quá trình phát triển của sáng tạo; các khái niệm phân hóa, quảng diễn, hội tụ, ngưng kết và biến hóa tự động điều hành các năng lực vũ trụ. Cuối cùng là sự biểu hiện trong mỗi giai đoạn của hai yếu tố Hỗn mang và Đạo, Không-Thời gian và Khí, Trời đất và Âm-Dương, Vạn vật và Chu kỳ thiên nhiên. Hiểu, đánh giá và làm sáng tỏ các đặc tính này đòi hỏi trước hết là phải đặt chúng trong toàn bộ bối cảnh của triết học mà nó là kết quả chung cục, tức giữa các trường phái đã phát triển nó và giữa các cuộc tranh biện mà nó gây ra. Trên thực tế, tất cả thuật ngữ được nêu trong phần sáng tạo luận của sách Hoài Nam Tử đã trở thành bộ phận các khái niệm sơ đẳng nhất, mà cũng nền tảng nhất, của vật lý học và vũ trụ học Trung Quốc. Chẳng hạn, khuynh hướng duy cơ cấu, theo cách nói của Joseps Needham, của vật lý Trung Quốc, tức ý tưởng cho rằng thế giới là một sinh thể corps vivant chắc chắn có mối liên hệ với tính ưu trội trong nó về vấn đề sáng tạo vũ trụ3. Nhìn từ góc độ này, và trong giới hạn mà tiến trình của nguồn gốc vũ trụ kết thúc ở giai đoạn vạn vật xuất hiện, thì các loại nguồn gốc thuộc lý luận chung về tiến hóa trong đó các dạng nhất thời của sự hình thành thế giới không phân biệt với dạng xuất hiện của sự sống. Cũng cần phải đối chiếu đặc tính này với quan niệm triết học và vũ trụ của chúng ta. Chẳng hạn, trong vật lý, mô hình duy cơ cấu được các nhà triết học tiền đế chế và thời Hán xây dựng không phải là không có nét tương đồng với Hy Lạp cùng thời. Ở đây tôi muốn nói đến vật lý học của phái khắc kỷ mà Sambursky, trong một tác phẩm đã trở thành kinh điển classique, đã chỉ ra sự đóng góp của nó cho sự hình thành khoa học hiện đại. Một đối chiếu nhất định, ít ra nó phải được trưng dẫn một cách nghiêm túc, có thể làm xuất hiện một số đặc tính khác, có thể tuy chưa thật cụ thể nhưng đều thỏa đáng. Chẳng hạn như trường hợp vấn đề tính nhân quả - tâm điểm trong bối cảnh Hy Lạp - không gây sự chú ý của các nhà vũ trụ học và vật lý học Trung Quốc thuộc giai đoạn chúng ta quan tâm. Nó không còn là vấn đề về nguyên nhân tối hậu cause finale, tức Thượng đế, mà là nguyên nhân thứ sinh cause seconde. Theo đó những người phái khắc kỷ, cũng như phái Aristote trước đó, đã đưa ra các giải pháp nâng cao mặt logic hơn là mặt vật lý theo đúng nghĩa của nó. Thật ra, tính đặc thù của Trung Quốc có thể ở chỗ không đi tìm giải pháp ở đâu khác ngoài giới tự nhiên; lẫn giới siêu nhiên tiên nghiệm đã từng dẫn dắt tư tưởng phương Tây trên lộ trình thần học và hữu thể học; và cả những quy luật chi phối tinh thần con người, nói khác là cả logic. Mặc dù thuật ngữ không thuộc hệ thống khái niệm của Trung Quốc, nhưng có thể nói, một phần, đến tính nhân quả nội tại theo nghĩa tính sản sinh tự nhiên gắn liền với năng lực điều hành của Đạo; phần khác, năng lực điều hành đó biểu lộ sự có mặt của mình trong thế giới, thông qua khâu trung gian của các chu kỳ tự nhiên. Các chu kỳ này tạo nên cái mà ta có thể gọi là nguyên nhân bề ngoài của sự vật với nghĩa là tiêu chuẩn xác định quá trình sinh thành và nấc thang các trạng thái hiện tồn trong tự nhiên. Điều thú vị là, ở Trung Quốc, một số sự quan tâm thuận cho vấn đề tính nhân quả đối lập với tầm quan trọng của suy tư về nguồn gốc vũ trụ trong cổ văn mặc dùø vấn đề nguyên nhân cuối cùng của thực tại và của sự chuyển hóa dứt khoát tìm được ngay từ lúc cách giải quyết vấn đề nguồn gốc thế giới và sự phát triển của thực tại trong thời gian đã được đưa ra. Hơn nữa, cần chú ý là các bản văn Trung Quốc luôn không phân biệt một cách rõ ràng giữa sáng tạo và cấu thể vũ trụ. Quá trình quy căn đồng nghĩa với sự lĩnh hội các nguyên lý, trong nấc thang nội tại tính, điều khiển sự vận động và sắp đặt cách phân bố hợp lý các thực thể trong tự nhiên. Cuối cùng cần phải đặt vấn đề sáng tạo vũ trụ trong Hoài Nam Tử vào bối cảnh sáng sủa hơn của phái Đạo gia thời tiền đế chế. Tầm vóc của Đạo với tư cách là cội nguồn sự vật, “có trước trời đất”, đã được thể hiện trong sách Lão Tử. Tuy nhiên, việc đặt điểm nhìn về tiến trình hình thành thế giới trong khuôn khổ vũ trụ học mô tả dường như không là ý định của các tác giả các đoạn văn đầy chất thơ trong tác phẩm. Sách Lão Tử chỉ có một công thức duy nhất, khá đơn giản, về sự triển khai của thực tại “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”4. Khi phân tích vấn đề này trong chương 2 sách Hoài Nam Tử, Charles Le Blanc đã vạch rõ sự nhập cuộc của suy tư vũ trụ học trong vùng chú giải những luận thuyết được trình bày trong sách Trang Tử. Mặt khác, trong phái Đạo gia, vấn đề nguồn gốc quyện chặt với ý tưởng toàn bích được xét như sự trở về nơi sinh của các thực thể và tính sản sinh năng động của giới tự nhiên. Ở đó nguồn gốc vũ trụ luận tìm được chỗ đứng của nó với tư cách là điểm mốc trên con đường nhận thức về quá trình hiện thực hóa của Đạo. Chính tính chất liên tục với các bản văn đầu tiên của phái Đạo gia đó cung cấp dáng vóc dụ ngôn, có tính thần bí, cho luận thuyết sáng tạo vũ trụ trong sách Hoài Nam Tử5. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn L’homme 137, janv-mars, 1996Đã giới thiệu trên TT. Nghiên cứu Triết học & Chính trị học, Viện KHXH, TP HCM - Chú thích 1 Liezi, chap. “Des heureux présage” Tianrui, éd. du Xin zhuzi jichen, Taipei, Shijie shuju, 1978 2. 2 GRAHAM 1989 332, MATHIEU 1992 70-71, ROY 1992 54-55 traduction partielle, MAJOR 1993 62. 3 NEEDHAM 1956 281, 291-292, 496-505. 4 Đạo đức kinh, 42 5 Tất cả bài này được trích dịch từ L’homme 137, janv-mars, 1996_ND. - Ghi chú của eVăn Theo Bách khoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc Nxb. VHTT, IV/2002 của Nguyễn Tôn Nhan, 170 và 246 thì Hoài Nam Tử là một tác phẩm tạp gia do Hoài Nam Tử Lưu An cháu của Hán Cao tổ Lưu Bang và các môn khách cùng biên sọan vào đời Tây Hán tk 2 TCN. Sách vốn có tên Hoài Nam Hồng Liệt; sau đó Lưu Hướng tk 2 TCN hiệu đính gọi là Hoài Nam. Tên Hoài Nam Tử xuất hiện đầu tiên tại phần “Kinh tịch chí” sách Tùy thư. “Nghệ văn chí” sách Hán thư ghi Hoài Nam Tử có 2 phần Nội thiên gồm 21 thiên, Ngoại thiên gồm 33 thiên. Nội thiên luận về Đạo hiện chỉ còn lưu hành phần Nội thiên này. Sách được chú giải nhiều lần, hiện có bản Hoài Nam Hồng Liệt tập thích của Lưu Văn Điển được xem là đáng tin cậy hơn giả Marc Kalinowski, sinh năm 1946, tốt nghiệp trường ĐH Paris VII ngành tiếng Trung Quốc năm 1973. Là thành viên Viện Viễn đông Bác cổ của Pháp EFEO từ 1979 đến 1993. Chuyên nghiên cứu vũ trụ luận truyền thống và Khổng giáo, lịch sử ngành thiên văn và lịch học của Trung Hoa cổ và trung đại, lịch sử thuật bói toán và các hệ thống biểu tượng trong tôn giáo và tư tưởng Trung Hoa.
Về công việc nặn ra người, Trời giao cho mười hai nữ thần khéo tay mà hạ giới vẫn gọi là mười haibà mụ. Mười hai bà mụ mỗi người làm một công việc khác nhau. Bà nặn tay nặn chân, bà nặn tai, bà nặn mắt, bà nặn cơ quan sinh dục, bà dạy bò dạy lật, bà dạy nói dạy cười. Vì có bà mụ đãng trí nên giống người có kẻ á nam, á nữ vì thiếu mất sinh thực khí. Khi sáng tạo ra loài người, Trời có ý định cho họ sống mãi khỏi phải chết, hễđến già rồi thì nằm yên một nơi trong ít lâu tự nhiên lớp da ngoài thay đổi, bỏlốt già đi mà hóa lại trẻ, trái hẳn với giống rắn, vì bản chất độc ác nên chỉ sống đúng tuổi rồi phải chết. Một vị thần được phái xuống hạ giới để thi hành việc đó không ngờ lại gặp nhằm loài rắn trước. Lũ rắn biết được sứ mạng của thần là xuống tuyên án chết cho loài chúng nên mới rủ nhau lại hàng vạn con xúmvây lấy sứ nhà Trời, nhất quyết bắt thần phải nói lại “Rắn già rắn lột, người già người tuột vào săng”. Nếu không thì lũ rắn quyết một mất một còn với thần. Thấy lũ rắn dữ tợn chỉ chực hại mình, thiên sứ đành phải nghe lời chúng. Do đómà loài rắn được lột xác sống mãi, còn loài người đến khi già phải chết. Khi Trời hay tin, giận thiên thần đã làm trái với ý định của mình, mới đàyxuống hạ giới làm kiếp bọ hung. Sau khi đã tạo ra vạnvật và con người, Trời thấy còn có sự thiếu sót ở các giống vật nên sai ba vịthần xuống hạ giới để bù đắp cho các giống vật nào cơ thể còn chưa được đầy đủ. Các giống vật hay tin đua nhau đến để xin thần nhà trời tu bổ cho các chỗ thiếusót cần thiết. Khi đã phân phối mọi vật liệu cho các giống vật vừa hết thì có con chó và convịt cùng đến một lần xin mỗi con một cẳng thiếu, vì chó mới có ba chân, vịt chỉmới có một từ lúc Trời sinh ra. Thần hết cả vật liệu, kiếm cách từ chối. Songthấy hai con vật van nài quá, thần mới bẻ tạm chân ghế chắp cho chân sau conchó bị thiếu và lấy que cây chắp cho chân con vịt rồi dặn chó và vịt khi nàongủ nhớ giơ cẳng chắp lên, chớ để xuống đất sợ hư đi. Chó và vịt lạy tạ ra theo lời thần dặn, từ đó lúc nào đi ngủ, hai giống vật này cũng đều co mộtcẳng lên trên không. Các thần đang sửa soạn về trời thì bỗng có mấy loại chim chiền chiện, chìa vôi,ốc cau, mỏ nhác … cùng đến một lúc kêu nài vì nỗi Trời đã nặn chúng thiếu mấtcả hai chân. Ba thần thoạt cũng từ chối, lấy cớ là đã hết vật liệu đem theo,song lũ chim một mực nài nỉ, bảo rằng vì chúng không có chân nên đến chậm, cốkhẩn cầu thần giúp cho. Một vị thần thấy gần đó có bình hương mới bẻ lấy mộtnắm chân hương làm cho mỗi con chim một cặp chân. Thấy đôi chân mong manh quá,chim kêu lên “Trời ơi! Trông que nhang thế này thì đậu làm sao được!”. Thầnbèn khuyên bảo “Không việc gì đâu, cứ chịu khó giữ gìn một chút là được. Khinào muốn đậu thì hãy đặt nhớm chân xuống đất xem có vững không đã rồi hãy đậu.”Do đó mà về sau các giống chim này cứ chới với nhún hai ba lần thử đặt chântrước rồi mới đậu. Một hôm Trời ngự giữalưng trời, phán hỏi loài người muốn điều gì trước nhất. Tổ tiên chúng ta xinmột ngày hai bữa cơm. Trời bèn hóa phép cứ mỗi ngày có một hạt lúa khổng lồ lăn qua khắp các cửa bà chỉ việc đưa tay ra hứng là có số gạo đủ ăn trong ngày. Sau mỗi ngày làmxong phận sự, hạt lúa được Trời hóa phép trở lại lớn như cũ. Người ta chỉ cầnquét dọn nhà cửa sạch sẽ để tiếp rước hạt ngọc của Trời lăn đến cửa. Có một người đàn bà kia tính tình lười biếng không nghe lời dặn của Trời. Khihạt lúa lăn đến cửa không thấy chủ nhà quét dọn tiếp rước mình, bèn quay sangnhà khác. Người chủ nhà tức giận cầm chổi rượt theo, đập một cái thật mạnh làmcho hạt ngọc vỡ tan từng mảnh. Loài người phải nhịn đói một thời gian, bèn đithưa với Trời. Trời bảo rằng “Các người không kính nể hạt ngọc của ta, từ đâycác ngươi phải làm hết sức mình để cho hạt ngọc được sống dậy. Mỗi người phảiđi tìm mảnh gạo vỡ của ta đem về, xới đất, tưới nước, săn sóc cho đến khi trổbông sinh hạt. Ta sẽ giúp các ngươi làm việc. Ta sẽ làm mưa và nắng… Từ đó loài người bắt đầu trồng lúa. Trời đặt ra một vị thần để trông nom về lúa. Thần Lúa là một cụ già râu tóc bạc phơ, thường hay chống gậy đi đó đây. Cũng vào lúc sinh ra lúa, Trời sai một thiên thần đưa xuống hạ giới một số hạtgiống lúa và một số hạt giống cỏ vãi ra khắp mặt đất để nuôi người và vật. Banđầu thần gieo tất cả giống cỏ trong tay trái. Cỏ mọc rất nhanh, lan tràn rấtmạnh đến nỗi hôm sau, Thần chỉ mới gieo hết một số hạt giống lúa ở trong tayphải thì không còn một khoảng đất nào để gieo nữa. Thần đành đem nửa số hạtgiống lúa về trời. Do đó mà ở trên mặt đất cỏ mọc nhiều mà lại rất khỏe còn lúathì ít lại mọc rất khó khăn, nếu không chăm bón làm cỏ thì bị cỏ át mất. Khi biết rõ việc ấy, Trời liền nổi giận đày thần xuống trần hóa làm con trâu,ăn cỏ đời này qua đời khác và phải kéo cày cho loài người trồng lúa.
【 tiếng Trung võng A cấp ký hợp đồng tác phẩm Ta, sáng tạo vạn giới 】 từng thân thủ bồi dưỡng Atlantis huy hoàng, cũng từng dưỡng một con miêu huỷ diệt cái này vĩ đại văn tận mắt nhìn thấy Trùng tộc hùng bá thiên địa, cũng từng nhìn chúng nó tự chịu diệt từng bồi dưỡng quá chư thần, cũng từng phát động quá chư thần hoàng sáng tạo một đám thế giới, cũng huỷ diệt một đám thế giới……Ta là Chúa sáng thế, cũng là hủy diệt cái bình thường thất nghiệp thanh niên, trong lúc vô tình được đến một bức liên thông không gian hai chiều thần bí bức hoạ cuộn tròn, não động mở rộng ra dưới, đem này không gian hai chiều đi bước một xây dựng phát triển, cuối cùng sáng tạo ra chư thiên vạn giới. bổn chuyện xưa cập nhân vật chỉ do hư cấu, như có tương đồng, chỉ do trùng hợp, chớ bắt chước. CẦU VOTE 10*, CẦU LIKE + CẦU THÊM ĐÁNH GIÁ 10Đ CUỐI CHƯƠNG!!! THANKS MỌI NGƯỜI NHIỀU Những mức buff10 Np = 1 chương1 Kim Đậu=2 chương1 Hỏa Tinh Châu=1 chương1 Thất Thải Châu=2 chương1 Kim Sa Châu=3 chương1 Bố Cáo Lệnh=10 chương
ta sáng tạo vạn giới